Văn bản pháp quy

Văn bản pháp quy

ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC ĐỂ LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ LÕI VÀ NÂNG TẦM VỊ THẾ QUỐC GIA TỪ QUYẾT ĐỊNH 1493/QĐ-TTG CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Phạm Bằng Giang 24/08/2026 19:58

Ngày 06/08/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1493/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình KH,CN&ĐMST quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược. Đây là bước đi đột phá cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW và Luật KH,CN&ĐMST năm 2025. Chương trình mở ra khung chính sách đặc thù, chuyển mạnh tư duy sang lấy sản phẩm và thương mại hóa làm thước đo, tạo bệ phóng giúp Việt Nam làm chủ công nghệ lõi và hội nhập toàn cầu.

Thực tiễn phát triển quốc gia trong giai đoạn mới đòi hỏi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải thực sự trở thành động lực then chốt, đóng vai trò nòng cốt trong nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quyết định 1493/QĐ-TTg ban hành Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt đã đặt ra quan điểm chỉ đạo rất rõ ràng: lấy sản phẩm công nghệ chiến lược làm mục tiêu và lấy năng lực thương mại hóa, khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu làm thước đo tối cao cho mọi hoạt động nghiên cứu. Điểm đổi mới căn bản của Chương trình chính là việc thiết lập chuỗi liên thông chặt chẽ từ khâu nghiên cứu, phát triển công nghệ đến sản xuất thử nghiệm và thương mại hóa rộng rãi.

Quyết định 1493QĐ_TTg Phê duyệt Chương trình KHCNĐMST Quốc gia đặc biệt về Công nghệ chiến lược
Quyết định 1493/QĐ-TTg ngày 06/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược (Ảnh tạo bởi AI)

Một trong những tư tưởng cốt lõi xuyên suốt Chương trình là xác định doanh nghiệp giữ vị trí trung tâm trong hệ sinh thái phát triển công nghệ chiến lược, trong khi Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, định hướng và viện nghiên cứu cùng các cơ sở giáo dục đại học là lực lượng nòng cốt. Nhằm giải quyết triệt để những vướng mắc kinh điển giữa nghiên cứu và ứng dụng, Chương trình ưu tiên mô hình hợp tác ba bên "Nhà nước - Doanh nghiệp - Viện/Trường" xuyên suốt toàn bộ vòng đời sản phẩm. Đặc biệt, quản lý Chương trình sẽ được thực hiện theo mục tiêu và kết quả đầu ra; Nhà nước chủ động chấp nhận và chia sẻ rủi ro trong nghiên cứu, đồng thời đẩy mạnh hợp tác công - tư để huy động tối đa các nguồn lực xã hội.

Chương trình được triển khai theo lộ trình hai giai đoạn rõ ràng với những mục tiêu định lượng đầy khát vọng từ nay đến năm 2035. Trong giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược và thương mại hóa ít nhất 15 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có tối thiểu 5 sản phẩm tự tin vươn ra thị trường khu vực và quốc tế. Tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm này phải đạt khoảng 40%. Đồng thời, Chương trình mục tiêu hình thành ít nhất 20 doanh nghiệp công nghệ nòng cốt, trong đó 5 doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tiến sang giai đoạn 2031 - 2035, các chỉ số này được nâng cao mạnh mẽ với mục tiêu làm chủ 6 công nghệ chiến lược, thương mại hóa 25 sản phẩm (có 15 sản phẩm xuất khẩu), đạt tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 40% và nuôi dưỡng ít nhất 30 doanh nghiệp công nghệ chiến lược với 10 doanh nghiệp tầm vóc toàn cầu.

Để hiện thực hóa những mục tiêu tham vọng đó, Chương trình vạch ra 3 nhóm nội dung trọng tâm cùng chuỗi giải pháp đồng bộ. Phương thức tổ chức nhiệm vụ khoa học công nghệ được thiết kế linh hoạt qua 3 kênh chính: các bài toán lớn do Thủ tướng Chính phủ trực tiếp giao; các nhiệm vụ đặt hàng xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của ngành, địa phương, doanh nghiệp; và các nhiệm vụ tuyển chọn, tài trợ nhằm thu hút sáng kiến, khám phá công nghệ nguồn, công nghệ nền tảng mang tính đột phá.

Về mặt cơ chế tài chính và quản lý, Quyết định 1493/QĐ-TTg tạo ra một bước ngoặt lớn khi cho phép áp dụng các chính sách đặc thù, vượt trội. Các nhiệm vụ thuộc Chương trình được áp dụng cơ chế khoán chi theo kết quả đạt được tại từng mốc đánh giá gắn với sản phẩm đầu ra. Đáng chú ý, cơ quan quản lý chấp nhận cho phép triển khai đồng thời nhiều phương án, nhiều hướng công nghệ độc lập để thực hiện cùng một mục tiêu, sau đó thực hiện đánh giá sàng lọc định kỳ để dừng các hướng đi không hiệu quả. Cơ chế này giúp tối ưu hóa thời gian và giảm thiểu lãng phí nguồn lực. Bên cạnh đó, các Tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học xuất sắc, bao gồm cả người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế, sẽ được hưởng cơ chế đãi ngộ và tuyển dụng đặc biệt.

Thực hiện vai trò thúc đẩy thị trường, Chính phủ yêu cầu các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước ưu tiên đặt hàng, mua sắm và sử dụng các sản phẩm công nghệ chiến lược được tạo ra từ Chương trình. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cũng sẽ được xây dựng theo quy trình rút gọn để nhanh chóng đưa sản phẩm ra thị trường. Đồng thời, toàn bộ dữ liệu quản lý, theo dõi Chương trình và mạng lưới chuyên gia sẽ được tích hợp đồng bộ trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

Về phân công trách nhiệm, Bộ Khoa học và Công nghệ đóng vai trò là cơ quan chủ trì, điều phối toàn bộ Chương trình, phối hợp cùng Bộ Tài chính đảm bảo nguồn ngân sách và các Bộ, ngành, địa phương trong việc đề xuất, tiếp nhận và thương mại hóa sản phẩm. Quyết định 1493/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành ngay từ ngày ký (06/08/2026) và sẽ kéo dài đến hết ngày 30/09/2035.

Sự ra đời của Quyết định 1493/QĐ-TTg không chỉ là một văn bản quy phạm pháp luật thuần túy, mà là một tuyên ngôn chính sách mạnh mẽ, kiến tạo hành lang pháp lý thông thoáng và cởi mở. Đối với cộng đồng thông tin, khoa học và công nghệ Việt Nam, đây chính là cơ hội vàng để các nhà khoa học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ tự tin dấn thân vào những bài toán lớn của đất nước, đưa trí tuệ Việt vươn tầm thế giới.

Phạm Bằng Giang